Huế mộng mơ…(Phần 3) – Khiêm Cung Ký

Huế có nhiều lăng tẩm, nhưng thật tình bao nhiêu lăng, lăng vua nào, thì tôi chịu! Ngày đầu tiên tới lăng Khải Định, tôi có chút suy tư – mình biết quá ít về các vị vua chúa Việt Nam. Tôi nhớ có lần ước Việt Nam giữ được các tập tục, truyền thống hoàng cung và nhất là tình cảm với hoàng tộc như dân Thái hay dân Nhật, chắc cuộc sống sẽ thú vị hơn nhiều!

Tôi hiểu điều này khó thành hiện thực trong xã hội đương thời, chỉ tiếc và buồn vì đất nước, dân tộc nào cũng có những trang sử khác nhau, có hào hùng vinh quang, có đau thương mất mát, có cả những sai lầm, nhìn nhận khác nhau, nhưng lịch sử thì nên tôn trọng và gìn giữ.

Khu mộ vua Tự Đức
Mộ vua Tự Đức

Lúc đang cho cá ăn ở hồ Lưu Khiêm trong lăng Tự Đức, tôi vô tình nghe người hướng dẫn viên chia sẽ vài chi tiết về vua. Tự Đức là con thứ của vua Thiệu Trị và bà Từ Dụ, là vị vua có thời gian trị vì lâu nhất, gần 36 năm tính từ 1847 đến 1883, và cũng chịu nhiều tai tiếng – bất nhân (trong cách xử thế với người anh trưởng), bất hạnh (không có người nối dõi) và bất tài (nhiều điều tiếng trong việc cai trị đất nước).

Sau khi ông mất, người con nuôi kế thừa là Dục Đức, lại là vị vua có thời gian trên ngai ngắn nhất, chỉ 3 ngày sau là bị truất ngôi rồi bị giết chết trong ngục. Đứng trong một không gian yên tỉnh, quanh là những di tích huy hoàng một thời của hoàng triều, nghe câu chuyện của người hướng dẫn viên làm tôi tò mò hơn…

Nhà bia Bi Đình gần nơi an táng vua Tự Đức
và bia đá với áng văn Khiêm Cung Ký do chính vua Tự Đức soạn

Gần nơi an táng vua, có một kiến trúc gọi là Bi Đình, nơi đó có đặt tấm bia đá nặng gần hai tấn và to nhất trong các bia mộ ở Huế. Trên bia có khắc bài Khiêm Cung Ký, đúng theo thông tục hoàng gia bài này phải do người thừa kế của vị vua đã khuất ghi lại nhưng vì Tự Đức không có người thừa tự nên ông tự viết. Bia Khiêm Cung Ký được công nhận là Bảo vật quốc gia.

Khiêm Cung Ký được Tự Đức viết như một tự sự về chính cuộc đời mình, tử thửa ấu thơ cho đến khi trưởng thành, những suy tư trăn trở của một người con, một vì vua, người phải đảm nhận bao nhiêu việc trong một hoàn cảnh đất nước rối ren với loạn trong giặc ngoài, những nổi đau riêng tư, không việc nào thành và cuối cùng chấp nhận cúi đầu để lịch sử luận tội.

Khiêm cung ký nguyên văn bằng tiếng Hán, gồm 5000 từ, được khắc trên cả hai mặt của bia đá, tôi tìm một hồi mới được bản dịch, nhưng không biết có bản dịch nào khác tồn tại hay không!

Bi Đình và bia Khiêm Cung Ký từ một góc nhìn khác trong khuôn viên

Vua Tự Đức viết khá chi tiết về cuộc đời của chính ông trong tự sự, từ lúc nhỏ cho đến khi lên ngôi, những câu chuyện trong triều, những mối quan hệ, cùng những suy tư của một người con, một vị Vua, một người dân. Ông nói đến cả việc xây lăng, sao phải xây sớm, đến việc dân ta thán, chống đối, sự bất lực của ông một phần do thể lực yếu ớt, một phần tự nhận mình bất tài!

Lăng Tự Đức được xây và hoàn tất khi ông còn sống, trong thời gian đó được gọi là Khiêm Cung, sau khi ông mất được gọi Khiêm lăng, trong Khiêm Cung Ký vua nói khá chi tiết về công trình này từ việc chọn nơi đến việc xây như thế nào, có những công trình gì và đặt tên ra sao, ông cũng giải thích tại sao các công trình đều có từ “Khiêm“.

Chú thích: Toàn bộ phần nội dung in nghiêng được trích dẫn từ Khiêm Cung Ký, dựa theo bản dịch của Phan Hứa Thuỵ, được đăng trên trang của Hội Nhà Văn Việt Nam.

Ôi! Khiêm là kính là nhường, có chỗ mà không ở, uốn mình xuống ngang với một ai là mang chịu ô nhục và tội lỗi như thể còn gì mà không nhường, không uốn mình, lại năng công đức gì mà chẳng khiêm? Vả chăng ta vốn quen giản dị, địa vị tuy ở chốn nhà vàng mà lòng thường như người áo vải…”

Hồ Lưu Khiêm và Xung Khiêm tạ

Chỗ nước lớn gọi là hồ Lưu khiêm quanh co uốn khúc từ phải sang trái sâu và trong, mùa hạ không cạn, mùa thu không tràn vì đây vốn là ruộng sâu mà đào nên, lại xây một cái cống thông ra ruộng bên ngoài để vừa giữ vừa tháo nước. Hồ khi mới làm được một nửa mà đàn cá chi chít không sao kể xiết, không đợi bắt bò vào nuôi bởi vì vị trí ấy rất tiện lợi để đàn cá từ ngoài vào.

Đảo Tịnh Khiêm trong hồ Lưu Khiêm có 3 ngôi đình nhỏ cũng đều có từ Khiêm

Vào những lúc trăng thanh gió mát, dong thuyền chơi trên mặt hồ, hái hoa quân tử, ca khúc ái liên sảng khoái lâng lâng không còn thêm gì nữa, bởi vì đầy hồ chỉ trồng một thứ hoa ấy. Bên cạnh hồ dựng lên hai nhà mát, một cái hai tầng khá cao và thoáng gọi là Xung khiêm; một cái ba tầng, các tầng thấp và hẹp gọi là Du khiêm, những đêm tháng năm có gió có trăng cũng đủ thú buông câu.

Du khiêm tạ

Gò bên phải có tường bao quanh, trổ một cái cửa có lầu gọi là Khiêm cung môn. Điện phía trường gọi là Hòa khiêm, là nơi thờ phụng hương khói về sau; điện phía sau gọi là Lương khiêm là nơi nghỉ ngơi vui chơi. Phía đông của điện ấy là Minh khiêm đường dùng làm nơi nghe tấu nhạc, phía tây là Ôn khiêm đường dùng làm nơi cất giữ đồ ngự phục…

Các bậc thang đưa lên Khiêm Cung Môn nhìn xuống hổ Lưu Khiêm
Khiêm Cung Môn
Điện Hoà Khiêm
Bên trong điện Hoà Khiêm – giờ là nơi thờ phụng
Nhìn nơi thờ phụng sao quá sơ sài lạnh lẽo, chắc ai viếng cũng phải chạnh lòng
Nhà hát Minh Khiêm (?)
Lễ Khiêm Vu nơi dành cho cho các quan thần chuẩn bị triều phục, tấu chương…mỗi khi hầu vua

Phần trích dẫn dưới từ Khiêm Cung Ký Tự Đức nói về hoàn cảnh đất nước, về tình hình sức khoẻ bệnh tật của mình, tự ti vì cảm thấy bất tài, bất hạnh…đưa ông đến quyết định xây lăng sớm.

Nhớ lại thời ấy, tin từ chiến trường gửi về vội vàng, tới tấp, công việc trọng yếu lại cần kíp, ngày đêm ăn nghỉ mất cả điều hòa, như điên cuồng, như mê loạn, đến nay nỗi kinh hoàng ấy còn chưa định tính, nên tật bệnh ngày một tăng, rồi chẳng may có một phen quá nặng đã chết đi sống lại, từ đó đầu choáng, mắt hoa, chân yếu, bụng ứ, những hư chứng thảy đều xuất hiện, nên việc tế tự không thể thân hành, việc triều chính không thể cần mẫn được. Vì vậy càng về sau ta càng bị chê bai phỉ báng. Thực lòng ta sợ một mai kia bỗng đuối sức mà không được như loài cáo thì quả là hổ thẹn, nên bèn sai quan thái sứ chuẩn bị xem đất

Vả lại ta làm cung này vì nghĩ cứ theo lệ thường thì ta phải có miếu riêng, có lăng tẩm, nếu không chuẩn bị trước thì ngày sau tôi con cứ tuân theo phép cũ khó tránh khỏi việc chọn chỗ cách trở xa xôi, phiền hà mệt nhọc, nên thực tình cốt để tiết giảm và thuận lợi

Sự đối lập của công trình được trùng tu và chưa

Ông cũng nói nhiều về thời thơ ấu của mình, về tình thương cha mẹ đối với con cái, đâu đó giúp ta thấy được vài cảnh sinh hoạt trong hoàng cung vào thời đó…

Thái hậu hiền từ nhưng nghiêm, thường ngày người dạy ta cách đi đứng nói năng cho phải phép, chẳng cho chơi lêu lổng, mỗi sáng ra học ở nhà ngoài đến gần trưa mới được vào, nếu có lãng quên lười biếng hay uể oải thì cũng tùy từng tội mà quở mắng. Nếu chưa thuộc bài thì người bắt ngồi học cho đến thuộc mới thôi, bằng không thì tuy có múa hát ngay trước mắt cũng chưa cho xem...

Có khi đang giữa tiệc rượu có tấu nhạc ca múa như thế cũng bảo ra làm thơ tức sự. Ta vâng lệnh làm một bài dâng lên, người lấy chiếc nhẫn vàng mặt ngọc ban cho rồi nói: Vật này chưa đủ gọi là quý, nay ban cho con với một lời là đừng làm thẹn lây kẻ đã sinh ra con, con nên ghi nhớ! Ta lạy nhận và ghi tạc lời dạy vào tâm cốt.

Lăng làm xong, ta thân rước mẹ ta đến thăm, bày đủ yến tiệc, múa hát, lại cho phép quan trong quan ngoài cùng thê thiếp đến dự lễ lạc thành. Đấy cũng là thể theo ý quần thần chứ ta đâu dám bày ra nhiều nghi lễ làm gì.

Lúc tìm thông tin trên mạng, tôi vô tình đọc trong một vài tài liệu, ngoài nổi loạn phản đối công trình xây dựng lăng quá ư cực khổ, có cả câu chuyện thực hư như thế nào không biết khi các thợ xây lăng đều bị giết (!?) cốt giữ bí mật lăng tẩm! Nghe như giống bên Tàu! Không biết đến giờ đã có kiểm chứng những tin như vậy hay chỉ là lời đồn thổi trong dân gian, trong đó có cả lời đồn đoán mộ vua cũng không phải là nơi an táng chính thức!

Những hanh lang nối các điện với nhau
Lối đi gần khu Bi Đình và mô phần vua Tự Đức

Đọc Khiêm Cung Ký, chắc ít nhiều cũng cảm nhận được nổi đau của một vì vua có một thể chất không tốt từ nhỏ và việc đó đeo bám theo ông đến tận sau, ảnh hưởng nhiều đến cuộc sống và việc trị vì…

Tính ta lại ít nói, hay thẹn thùng, cho nên không phải bạn chí thân, dù là thân cận đại thần gặp nhau lúc vào triều thì cũng ít khi bàn việc quan hay lên mặt như kẻ khác, do đó hầu như ta có rất ít người để giao thiệp nhưng ta vẫn cứ yên vui sống trong lặng lẽ và vụng về ấy.

Ta vốn bẩm sinh thể chất yếu đuối, lúc mới sinh ta, mẹ ta ốm đau hằng mấy tháng mới khỏi, vú nuôi ta lại không được cẩn thận sạch sẽ, mẹ ta bảo ban mà chẳng nghe, vì sợ ta bị tối tăm nên mới lên ba đã vội ngăn không cho ta bú nữa, rồi một mình mẹ ta tự tay bồng ẵm lấy. Ta từ đó ốm đau cứ kéo dài và đã từng nguy cấp, mẹ ta sớm chiều ôm ấp hết sức khó nhọc.

Một trong những cái cầu trong lăng đều có từ “Khiêm”

Khí huyết ta vốn yếu đuối, thân thể thường gầy gò, trong lúc tuổi trẻ đang yên ổn này mà việc nối dõi còn khó có thể an ủi được lòng mong chờ của cha mẹ, thật quá hổ thẹn, nhưng đang buổi đầu ta chưa quan tâm lắm. Gần đến tuổi trưởng thành, vào tháng sáu bỗng mắc bệnh đậu mùa rất nguy kịch, nhờ cha mẹ hết sức thuốc thang cầu đảo, tháng tám mới khỏi.

Ngày đêm phán quyết mọi việc, mắt đọc tay phê còn sức đâu để làm gì nữa, tuy chẳng tránh khỏi thú vui chơi thanh sắc, săn bắn, bài bạc nhưng chẳng qua cũng chỉ là những món tiêu khiển tầm thường chẳng kể làm gì, thực đâu dám làm sâu dân mọt nước, điều ta hằng mong vẫn chưa thực hiện được vì đức ta chưa đủ để cảm hóa thói tục, tài ta chưa đủ để giáo hóa con người. chí lớn mà hiểu biết ít ỏi, muốn nặng nhưng chỉ được nhẹ.

Ta nay, trong thì không có niềm vui về đường nối dõi, ngoài thì nhiều việc chưa yên, một mình với biết bao lo âu tội lỗi xảy đến, người sức khỏe bình thường còn chưa kham nổi huống gì ta. Ta chỉ lấy một chữ THÀNH để chế ngự mọi xấu xa, ngoài ra ta còn biết tin vào đâu nữa, chỉ có trời mà thôi…

Nay chép vào đây đều là sự thực cả, chỉ có mình ta chứ nào ai thấu được, ngõ hầu thổ lộ phần nào cái chí của ta cùng thiên hạ. Còn như công việc của ta hay dở thế nào thì đã có ngọn bút của các nhà viết sử, đến như văn vẻ chữ nghĩa thế nào cũng chẳng cần bàn nữa. Ngày sau, may mà gặp người có thế gửi gắm được chí của ta thì ta ắt cho nối dõi, bằng không thì biết lấy ai kế tục, cũng nên lượng thứ cho lòng ta, đừng nên lấy bề ngoài làm trọng.

Tâm trí đau khổ dằng dặc suốt cả sớm chiều, rồi bỗng dưng như cuồng loạn, nếu không có ân đức thánh nhân thì ai vực ta dậy, nên ta cứ chờ đợi mãi. Chỉ có trời và thánh nhân mới hoàn tất được chí của ta

Cổng vào Lăng Tự Đức

Câu ta thán của vua Tự Đức “chỉ có trời và thánh nhân mới hoàn tất được chí của ta…” như một lời ai oán, trách thân không làm nên nghiệp lớn…Bước ra khỏi lăng, trời lúc đó khá lạnh, lại vắng khách, tôi có chút suy tư sau những gì mình thấy sáng nay, tôi quay lại nhìn cổng vào một lần nữa. Trên cổng đầy dấu vết tàn phá của thời gian, hằn sâu trên từng cạnh, trong từng góc, hoen ố, bong tróc, rêu phong…và đó có thể sẽ là số phận chung cho những công trình khác trong lăng, đâu đó trong thành nội…khi chúng ta cứ để thời gian đi ngang và không biết trân trọng quá khứ, cho dù nó ra sao!

P.S: Toàn bộ bài dịch Khiêm Cung Ký có thể tìm thấy tại đây.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s